Một số giải pháp thúc đẩy thực thi Quy hoạch phát triển và quản lý báo chí toàn quốc đến năm 2025 tại các cơ quan báo chí hiện nay

Thứ bảy, 00:27 07-08-2021
LLCTTT - Ngày 3.4.2019, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã ký ban hành Quyết định số 362/QĐ-TTg phê duyệt Quy hoạch phát triển và quản lý báo chí toàn quốc đến năm 2025. Đây là chủ trương của Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, là văn bản pháp lý có tính nền tảng cho việc đổi mới mô hình và tổ chức, quản lý nền báo chí nhằm phát triển xã hội thông tin ở Việt Nam hiện nay. Bài báo đề cập tới yêu cầu mới, vấn đề đặt ra và giải pháp thúc đẩy thực thi Quy hoạch phát triển và quản lý báo chí toàn quốc đến năm 2025 tại các cơ quan báo chí tới năm 2025.

1. Hai yêu cầu mới đối với cơ quan báo chí trong thực thi Quy hoạch phát triển và quản lý báo chí toàn quốc đến năm 2025

Thực thi Quyết định 362/QĐ-TTg đòi hỏi các cơ quan báo chí cần phân khúc sâu thị trường báo chí - truyền thông hiện tại và thị trường báo chí truyền thông sau Quy hoạch, từ đó xác định lại giá trị, vai trò của từng sản phẩm báo chí, từng cơ quan báo chí đối với công chúng và xã hội.

Các cơ quan báo chí cần nghiên cứu, phân tích và phân khúc sâu nền báo chí Việt Nam

Việc nghiên cứu, phân tích và phân khúc tổng thể cho phép nhận diện thực trạng nền báo chí Việt Nam, thị trường mới, từ đó có chiến lược đổi nguồn lực trong hệ thống các thiết chế truyền thông của hệ thống chính trị song song với phát triển ngành công nghiệp truyền thông trong kỷ nguyên số hiện nay.

Quyết định 362/QĐ-TTg đã phân khúc nền báo chí Việt Nam theo 4 nhóm cơ quan chủ quản then chốt được xác định cụ thể, bao gồm: báo chí trung ương; báo chí của các bộ, ngành; báo chí địa phương; báo chí của các tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức tôn giáo, doanh nghiệp nhà nước. Phân khúc thị trường báo chí - truyền thông căn cứ chủ yếu vào mục tiêu đáp ứng quyền tiếp cận thông tin báo chí, nâng cao sức mạnh (tinh, gọn, hiệu quả) của hệ thống các cơ quan báo chí ở Việt Nam theo hướng cách mạng, chuyên nghiệp, hiện đại, chất lượng, hiệu quả đáp ứng nhu cầu thông tin của nhân dân, tuyên truyền đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, đoàn kết, tập hợp quần chúng, tạo đồng thuận trong xã hội, định hướng tư tưởng và thẩm mỹ, góp phần nâng cao dân trí, phát triển văn hóa và con người Việt Nam.

Cần phân khúc thị trường báo chí truyền thông một cách tổng thể với toàn bộ nền báo chí truyền thông Việt Nam và phân khúc chuyên sâu vào lĩnh vực báo chí, từ đó xây dựng chiến lược sắp xếp nguồn nhân lực báo chí truyền thông một cách bài bản, dựa trên cơ sở khoa học báo chí truyền thông. Việc phân khúc nên dựa trên ba trục chính: nhà sản xuất; hàng hoá - dịch vụ; công chúng - khách hàng. Bên cạnh đó, cần phân tích thực trạng các yếu tố ảnh hưởng lớn nhất đến sự phát triển của nền báo chí, bao gồm: cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực báo chí - truyền thông, môi trường pháp lý về quản lý, kinh doanh báo chí - truyền thông địa phương, quốc gia và quốc tế; quan hệ cung cầu và đặc thù công chúng truyền thông.

Quy hoạch phát triển và quản lý báo chí toàn quốc đến năm 2025 cho thấy 4 dòng sản phẩm báo chí với mức độ từ thấp đến cao được phân khúc rõ nét: 1. Sản phẩm báo chí đơn loại hình; 2. Sản phẩm báo chí tích hợp loại hình; 3. Sản phẩm báo chí - truyền thông đa phương tiện; 4. Sản phẩm báo chí - truyền thông đa nền tảng.

Các cơ quan báo chí cần xác định lại giá trị, vai trò của từng sản phẩm báo chí, từng cơ quan báo chí đối với công chúng và xã hội

Để xây dựng đề án quy hoạch và phát triển của mình, mỗi cơ quan báo chí cần xác định lại giá trị, vai trò của từng sản phẩm báo chí, từng cơ quan báo chí đối với công chúng và xã hội, tức là phải tái định vị thương hiệu cơ quan báo chí và sản phẩm báo chí sau Quy hoạch. Các bước quan trọng nhất cần làm để tái định vị thương hiệu báo chí bao gồm: (1). Xác định tầm nhìn, sứ mệnh, giá trị cốt lõi và thế mạnh sản phẩm dịch vụ… của cơ quan báo chí; (2). Xác định mục tiêu thương hiệu ; (3). Nghiên cứu công chúng và phân khúc thị trường; (4). Tái định vị thương hiệu.

Các cơ quan báo chí cần triển khai kịp thời các nhiệm vụ nghiên cứu phục vụ cho tái định vị thương hiệu của cơ quan và sản phẩm báo chí, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới. Cần trả lời câu hỏi: Sau quy hoạch, cơ quan báo chí sẽ có tầm nhìn, sứ mệnh, giá trị cốt lõi khác gì so với cơ quan báo chí vào thời điểm chưa sáp nhập? Cần tổ chức các hội thảo, tọa đàm khoa học, hội nghị để phân tích rõ vấn đề, thực trạng tổ chức, chỉ ra được điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức, từ đó xác định đúng các tầng ý nghĩa và các yếu tố của thương hiệu cơ quan báo chí và sản phẩm báo chí. Các tầng ý nghĩa quan trọng nhất của thương hiệu cơ quan báo chí và các sản phẩm báo chí sau quy hoạch cần được làm rõ, bao gồm: thuộc tính của thương hiệu, lợi ích của thương hiệu, giá trị của thương hiệu, văn hoá thương hiệu, tính cách thương hiệu và người sử dụng (công chúng báo chí và nhà quảng cáo). Các yếu tố cơ bản của thương hiệu báo chí bao gồm: tên cơ quan báo chí hoặc sản phẩm báo chí; dấu hiệu, biểu tượng; câu khẩu hiệu; nhạc hiệu - hình hiệu; bản quyền.

Việc xác định đúng tầm nhìn, sứ mạng, giá trị cốt lõi, thế mạnh thương hiệu là điều kiện tiên khởi cho các quyết định thay đổi về mục tiêu thương hiệu, từ đó xác định được mục tiêu, tiến trình xây dựng phát triển cơ quan báo chí theo Quyết định số 362/QĐ-TTg. Mỗi cơ quan báo chí đều có tầm nhìn, sứ mạng, giá trị cốt lõi riêng, do đó, dù Quy hoạch phát triển và quản lý báo chí đến năm 2025 có mục tiêu chung, sẽ có sự khác biệt cụ thể đối với mục tiêu thương hiệu cơ quan báo chí cũng như mục tiêu quy hoạch và phát triển của từng cơ quan báo chí.

Một công việc không thể bỏ qua là nghiên cứu công chúng và phân khúc thị trường. Cần phân khúc công chúng theo 5 chiều: phân khúc địa lý; nhân khẩu xã hội học; nhu cầu tiếp cận và tiếp nhận thông tin/ sản phẩm báo chí; các chiều tâm lý công chúng; bối cảnh, tình huống tiếp cận và tiếp nhận sản phẩm báo chí truyền thông. Kết quả nghiên cứu đề tài “Mạng xã hội trong bối cảnh phát triển xã hội thông tin Việt Nam hiện nay” (Mã số KX 01.10/16-20) của Học viện Báo chí và Tuyên truyền cho thấy: công chúng Việt Nam dành nhiều thời gian cho việc tiếp cận sản phẩm, dịch vụ truyền thông trên các nền tảng số, đặc biệt là tiếp cận thông tin, truyền thông trên mạng xã hội. Từ cơ sở kết quả nghiên cứu xu thế tiếp cận, tiếp nhận, nhu cầu, thị hiếu công chúng - khách hàng, cần phân khúc rõ thị trường của cơ quan báo chí là dòng sản phẩm báo chí truyền thông nào: đơn loại hình, đa loại hình, đa phương tiện hay đa nền tảng; hiện trạng, vấn đề đặt ra, từ đó xác định mục tiêu, mô hình toà soạn, quy trình tổ chức, sản xuất sản phẩm báo chí truyền thông; tổ chức bộ máy, phương thức quản lý nội dung, cơ chế phối hợp, cơ chế tài chính, tổ chức tài chính hiệu quả.

2. Vấn đề đặt ra với cơ quan báo chí trong thực thi Quy hoạch phát triển và quản lý báo chí toàn quốc đến năm 2025

Trên cơ sở tiếp cận một số nghiên cứu về báo chí truyền thông trong bối cảnh phát triển xã hội thông tin, từ phân tích thực trạng triển khai Quyết định 362/QĐ-TTg, đã chỉ ra những khó khăn, chúng tôi nhận diện mấy vấn đề đặt ra sau đây:

Một là, vấn đề nhận thức đúng đắn về chủ trương của Đảng, mục tiêu, lộ trình quy hoạch phát triển và quản lý báo chí toàn quốc. Việc triển khai thực hiện Quy hoạch phát triển và quản lý báo chí toàn quốc không phải là để “xử lý” báo chí mà nhằm nghiên cứu đổi mới mô hình tổ chức, quản lý báo chí, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh, độ “tinh nhuệ” của nền báo chí hiện đại, tập trung nguồn lực vào nhiệm vụ chính của mỗi cơ quan báo chí theo đúng định hướng, theo đúng tôn chỉ mục đích, phục vụ cho nhiệm vụ chính trị của cơ quan chủ quản; khắc phục tình trạng dẫn lại, copy lại trên các báo điện tử; làm sống lại những nội dung báo chí chất lượng, chuyên sâu như báo chí chính luận, phản biện, phóng sự, điều tra, đặc biệt là trên các báo in, tạp chí in.

Hai là, vấn đề nghiên cứu cơ sở khoa học về các dòng sản phẩm báo chí chưa có trong nền báo chí cũ. Cần làm rõ lý luận về sản phẩm báo chí tích hợp, sản phẩm báo chí - truyền thông đa phương tiện, sản phẩm báo chí - truyền thông đa nền tảng. Cần nghiên cứu lý luận và thực tiễn về Tạp chí điện tử, chẳng hạn: khái niệm, phân loại, so sánh với tạp chí in và báo điện tử, trả lời rõ câu hỏi về mô hình toà soạn, quy định về nội dung và phương thức tổ chức sản phẩm đầu ra được phép xuất bản ở cơ quan báo và cơ quan tạp chí. Hiện chưa có nhiều các nghiên cứu chuyên sâu về giải pháp khắc phục nhược điểm của nền báo chí cũ, đặc điểm và yêu cầu của nền báo chí sau quy hoạch, dẫn đến tình trạng còn lúng túng trong triển khai của cơ quan chủ quản và lãnh đạo cơ quan báo chí.

Ba là, vấn đề đổi mới quy trình tổ chức sản xuất và mô hình toà soạn hội tụ. Để thực thi mô hình tinh gọn, báo chí tích hợp, đa phương tiện và đa nền tảng, điều kiện tối cần thiết là việc đổi mới quy trình tổ chức sản xuất và xây dựng mô hình toà soạn hội tụ. Giai đoạn 2 trong lộ trình triển khai quy hoạch là 5 năm, là thách thức lớn về thời gian với một số cơ quan báo chí, đặc biệt là các cơ quan báo chí địa phương để đổi mới quy trình tổ chức sản xuất và mô hình toà soạn.

Bốn là, vấn đề phát triển cơ sở hạ tầng công nghệ cho nền báo chí - truyền thông đáp ứng nguyên tắc và tính hệ thống của các thành tựu cách mạng công nghiệp 4.0. Vấn đề này đòi hỏi yêu cầu đồng bộ nhận thức, năng lực và nguồn lực tài chính của cả cơ quan chủ quản và cơ quan báo chí.

Năm là, vấn đề nguồn lực và đào tạo nguồn lực ngành báo chí và các ngành truyền thông khác trong kỷ nguyên 4.0. Đây là thách thức lớn nhất trong lộ trình triển khai Quyết định 352/QĐ-TTg. Tình trạng thiếu nhân lực chất lượng cao và thừa nhân lực không đáp ứng được yêu cầu sau khi sắp xếp là khá phổ biến. Đặc biệt, cần giải quyết vấn đề liên quan đến đời sống của những người làm báo, những phóng viên, biên tập viên khi sáp nhập các đơn vị báo chí.

3. Giải pháp đổi mới mô hình, phương thức quản lý nội dung và quản trị toà soạn cơ quan báo chí

Như đã nêu trên, định vị và tái định vị thương hiệu báo chí và sản phẩm báo chí theo Quyết định số 362/QĐ-TTg tất yếu đòi hỏi phải đổi mới mô hình và phương thức quản lý nội dung, quản trị toà soạn cơ quan báo chí. Từ mục tiêu và cơ sở thực trạng năng lực, tiềm lực phát triển và quản lý của cơ quan báo chí đó, có thể xây dựng quy trình tổ chức sản xuất sản phẩm báo chí truyền thông, mô hình tổ chức toà soạn và mô hình - nguyên tắc quản trị kinh doanh tương ứng với các khía cạnh của lý thuyết hội tụ như đã nêu trên. Ba lĩnh vực cần có nghiên cứu và đề xuất đổi mới, bao gồm: Quy trình tổ chức, sản xuất sản phẩm báo chí - truyền thông, Mô hình tổ chức toà soạn và Mô hình, nguyên tắc quản trị kinh doanh sản phẩm báo chí - truyền thông. Cơ sở lý thuyết căn bản là lý thuyết hội tụ đa phương tiện.

Thuật ngữ hội tụ biểu thị sự chuyển động cùng hướng về một điểm đến của “tập hợp những điểm phân biệt” (Meikle & Young, 2011). Trong lĩnh vực truyền thông, thuật ngữ này được sử dụng để “mô tả một loạt sự phát triển và biến đổi đa dạng xét trên các khía cạnh về kỹ thuật, công nghiệp, văn hóa, xã hội, không gian và chính trị”. H. Jebkins, trong bài báo khoa học đăng trên MIT Technology Review của Viện Công nghệ Masachusetts, Hoa Kỳ năm 2011 đã phân tích hội tụ bao gồm 5 khía cạnh: (1). Hội tụ công nghệ; (2). Hội tụ kinh tế; (3). Hội tụ xã hội và hữu cơ; (4). Hội tụ văn hoá; (5). Hội tụ toàn cầu.

- Hội tụ công nghệ

Dòng chảy thông tin số xuyên nền tảng do Internet tạo ra, dẫn đến sự mở rộng phương thức sáng tạo nội dung và mối quan hệ nội dung - con người). Cần có chuyển đổi số với tất cả các dữ liệu cho sản phẩm báo chí, truyền thông, xây dựng trung tâm dữ liệu, sử dụng các giải pháp công nghệ cho việc phân tích, xử lý, quản lý và sáng tạo nội dung trên nền tảng Internet. Nền tảng Internet, hệ thống dữ liệu lớn (big data) và hệ thống ứng dụng thành tựu công nghệ mới như: Internet vạn vận, trí tuệ nhân tạo… là điều kiện quan trọng cho hội tụ công nghệ. Tất cả cơ quan báo, tạp chí, kênh truyền hình (trừ cơ quan báo chí sản xuất sản phẩm báo chí đơn loại hình) đều có thể đổi mới mô hình toà soạn theo hướng hội tụ công nghệ. Tuy nhiên, ngoài điều kiện về cơ sở hạ tầng, tài chính, cần đáp ứng được yêu cầu tương thích về nguồn nhân lực sử dụng và quản lý công nghệ. 

- Hội tụ kinh tế

Hội tụ kinh tế là sự hội tụ theo chiều ngang của ngành, lĩnh vực và định nghĩa những chuỗi giá trị mới. Chẳng hạn: hội tụ nội dung giữa ngân hàng tin tức, các sản phẩm báo chí và Nhà xuất bản Thông tấn của Thông tấn xã Việt Nam; sự hội tụ giữa Trung tâm tư liệu, văn kiện của các cơ quan báo Đảng, các cơ quan tạp chí khoa học với các nhà xuất bản, Đài Tiếng nói Việt Nam và Đài Truyền hình Việt Nam trong việc sản xuất nội dung xuất bản liên quan đến bản quyền dữ liệu. Hội tụ theo chiều ngang cho phép tạo ra các “chuỗi giá trị mới” tạo hướng phát triển kinh tế báo chí, truyền thông.

- Hội tụ xã hội và hữu cơ

Môi trường đa màn hình và đa tác vụ được tạo ra bởi hệ sinh thái thiết bị và sự kết nối giữa các nhóm người dùng (công chúng) khác nhau. Hội tụ xã hội và hữu cơ cho các nhà lãnh đạo, quản lý báo chí những gợi ý về báo chí truyền thông đa màn hình, đa nền tảng, ý tưởng sáng tạo về tạo sự tương tác và kết nối với công chúng, và điều kiện tối thiểu là một bộ phận nghiên cứu phát triển hay trung tâm đổi mới sáng tạo được xây dựng trong cơ quan báo chí để thực hiện các dự án này.

- Hội tụ văn hoá

Những định dạng và nền tảng mới để sáng tạo bằng những công nghệ truyền thông qua các phương tiện khác nhau ở khắp các lĩnh vực và các nhóm người tiêu dùng. Điều này tạo ra sự hội tụ trong văn hoá truyền thông và văn hoá tiêu dùng của công chúng. Quản lý nội dung và quản trị thương hiệu, quản trị kinh doanh báo chí, truyền thông phải chú ý đến kiểu hội tụ này.

- Hội tụ toàn cầu

Hội tụ toàn cầu cho phép công chúng/ người dùng sản phẩm báo chí thông qua sản phẩm báo chí được trải nghiệm như là một công dân trong ngôi làng toàn cầu. Chính vì vậy, hãy chú ý đến phạm vi lan toả, tác động và các yếu tố phản hồi của công chúng toàn cầu cần phải được hội tụ trong sản phẩm. Một tờ báo địa phương, thông qua dự án quản lý các nội dung thông tin đối ngoại và truyền thông quốc tế trên phiên bản báo mạng điện tử tối ưu hoá hội tụ toàn cầu.

Tác giả cuốn Supporting Business Modelling: A compropmise between Creativity and Constraints đề xuất mô hình kinh doanh bao gồm các mảng cơ bản: hoạt động, sản phẩm - dịch vụ, tài chính và khách hàng. Theo chúng tôi, một mô hình tổ chức toà soạn để tích hợp với mô hình quản trị kinh doanh báo chí truyền thông phải là mô hình tổng thể của 4 khu vực căn bản, bao gồm: khu vực hoạt động nghiệp vụ, khu vực sản phẩm - dịch vụ, khu vực công chúng - khách hàng và khu vực tài chính, với mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau, theo mô hình sau đây:

Hang
Bốn khu vực trong mô hình tổ chức toà soạn

Theo đó, Khu vực sản phẩm dịch vụ chịu trách nhiệm về tất cả các vấn đề thuộc về giá trị của sản phẩm, dịch vụ, trên cơ sở định vị và quản trị thương hiệu cơ quan báo chí và sản phẩm/ dịch vụ đã nêu trên.

Quản lý nội dung chịu trách nhiệm chính trong quản lý Khu vực hoạt động nghiệp vụ, bao gồm: (1). Hoạt động nghiệp vụ chính, bao gồm: sáng tạo nội dung, tổ chức sản xuất sản phẩm, đóng gói sản phẩm, dịch vụ; (2). Nguồn lực chính: Phóng viên, biên tập viên, đạo diễn, biên kịch, kỹ sư công nghệ, thiết kế, đồ hoạ…; (3). Mạng lưới đối tác.

Khu vực tài chính quản lý cấu trúc chi phí và doanh thu của cơ quan báo chí. Một trong những khu vực cần chú sự chú trọng đổi mới trong mô hình toà soạn là Khu vực công chúng - khách hàng, bao gồm: Trung tâm nghiên cứu đổi mới và sáng tạo, bộ phận phụ trách Phân khúc thị trường và công chúng, quan hệ khách hàng và kênh phân phối. Sản phẩm đầu ra của Khu vực Công chúng - Khách hàng sẽ được gửi đến Khu vực Sản phẩm dịch vụKhu vực hoạt động nghiệp vụ, tạo cơ sở cho việc điều chỉnh các vấn đề thuộc về giá trị thương hiệu và các yếu tố cơ bản của thơng hiệu cơ quan và sản phẩm báo chí, từ đó tối ưu hoá các dòng sản phẩm. Trung tâm Nghiên cứu đổi mới và sáng tạo và kết quả hoạt động của nó sẽ tác động trực tiếp đến các hoạt động nghiệp vụ, bao gồm tiêu chí cho sáng tạo nội dung, quy trình tổ chức sản xuất, phương thức hội tụ, nền tảng công nghệ hay cơ sở hạ tầng, tiêu chí chọn nhân lực thực hiện.

Quản trị toà soạn bao gồm việc quản trị tổng thể tất cả các lĩnh vực đã nêu trên, trong mối quan hệ tương tác giữa các khu vực và các thành tố trong từng khu vực đó. Yêu cầu của mô hình tổ chức toà soạn phải tạo cơ chế cho thực thi đổi mới về phương thức quản lý nội dung đa phương tiện, đa nền tảng và đổi mới nội dung, phương thức quản trị kinh doanh báo chí truyền thông trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0 và yêu cầu quyết liệt về tự chủ tài chính ở cơ quan báo chí. Các quá trình quản trị cần có bao gồm: Quản trị nguồn nhân lực, quản trị thông tin và công nghệ, quản trị tài chính, quản trị các vấn đề môi trường, sức khoẻ và sự an toàn, quản trị các mối quan hệ đối ngoại, quản trị sự thay đổi và cải tiến, quản trị khủng hoảng, quản trị thương hiệu và hình ảnh.

Những điều kiện bối cảnh cho các giải pháp nêu trên bao gồm: (1). Nhận thức và tầm chiến lược của nhà lãnh đạo, quản lý cơ quan báo chí: (2). Các cơ quan báo chí có phương án sắp xếp nguồn nhân lực một cách bài bản, công khai, minh bạch; (3). Đổi mới toàn diện lĩnh vực đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực báo chí truyền thông; (4). Tăng cường truyền thông giáo dục cho các nhà báo về ý thức chủ động học tập./.

 ___________________________________

Tài liệu tham khảo

1. Sparviero, Sergio, Peil, Corinna, Balbi, Gabriele (Eds.) (2017), Media Convergence and Deconvergence, Springer, ISBN 978-3-319-51289-1, p.3.

2. Đỗ Thị Thu Hằng (2014), Xây dựng thương hiệu sản phẩm báo chí: khái niệm, vai trò và các bước thực hiện, Tạp chí Người làm báo, Bộ mới số 78(369), tháng 11.2014.

3. Đỗ Thị Thu Hằng (2015), Giáo trình Tâm lý học báo chí, Nxb. Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh.

4. Đỗ Thị Thu Hằng (2017), Thị trường báo chí truyền thông Việt Nam - thực trạng và xu hướng phát triển, Tạp chí Lý luận chính trị và Truyền thông, số 6.2017.


Nguồn: Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị và Truyền thông tháng 1.2021

PGS, TS Đỗ Thị Thu Hằng

Học viện Báo chí và Tuyên truyền

Xem nhiều

Hội thảo khoa học quốc gia “Kinh tế truyền thông: Lý luận, thực tiễn và kinh nghiệm”

Sáng 01.10.2021, Học viện Báo chí và Tuyên truyền phối hợp với Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật tổ chức Hội thảo khoa học quốc gia với chủ đề: “Kinh tế truyền thông: Lý luận, thực tiễn và kinh nghiệm”. Để đảm bảo an toàn phòng, chống dịch Covid-19, Hội thảo được tổ chức bằng hình thức trực tiếp và trực tuyến trên nền tảng Microsoft Teams.

Truyền thông, báo chí và vấn đề bảo vệ, bảo đảm quyền con người ở Việt Nam hiện nay

Truyền thông, báo chí và vấn đề bảo vệ, bảo đảm quyền con người ở Việt Nam hiện nay

Bảo vệ, bảo đảm và đấu tranh trên lĩnh vực quyền con người, quyền công dân là một trong những vấn đề được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm. Cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013 về quyền con người, quyền công dân, Luật Báo chí năm 2016 đã quy định rõ mối quan hệ giữa quyền con người và quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân; đồng thời nhấn mạnh vai trò của truyền thông, báo chí trong bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân, cũng như tuyên truyền quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về quyền con người và chống các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch trên lĩnh vực quyền con người.

Một số giải pháp thúc đẩy thực thi Quy hoạch phát triển và quản lý báo chí toàn quốc đến năm 2025 tại các cơ quan báo chí hiện nay

Một số giải pháp thúc đẩy thực thi Quy hoạch phát triển và quản lý báo chí toàn quốc đến năm 2025 tại các cơ quan báo chí hiện nay

LLCTTT - Ngày 3.4.2019, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã ký ban hành Quyết định số 362/QĐ-TTg phê duyệt Quy hoạch phát triển và quản lý báo chí toàn quốc đến năm 2025. Đây là chủ trương của Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, là văn bản pháp lý có tính nền tảng cho việc đổi mới mô hình và tổ chức, quản lý nền báo chí nhằm phát triển xã hội thông tin ở Việt Nam hiện nay. Bài báo đề cập tới yêu cầu mới, vấn đề đặt ra và giải pháp thúc đẩy thực thi Quy hoạch phát triển và quản lý báo chí toàn quốc đến năm 2025 tại các cơ quan báo chí tới năm 2025.

Triết học về truyền thông và vai trò của nó đối với truyền thông trong thời đại cách mạng công nghiệp 4.0

Triết học về truyền thông và vai trò của nó đối với truyền thông trong thời đại cách mạng công nghiệp 4.0

LLCTTT - Với tư cách là một hình thái ý thức về phương pháp luận, ngay từ đầu triết học đã trở thành tiền đề trong việc xây dựng nên các lý thuyết truyền thông. Trong lịch sử của Truyền thông học, với lý thuyết của chủ nghĩa tự do báo chí được hình thành từ cách mạng tư sản thế kỷ XVII, cho đến quan điểm của trường phái Frankfurt về sức mạnh của khoa học và truyền thông được hình thành từ đầu thế kỷ XX, trong điều kiện của chủ nghĩa tư bản hậu kỳ, đó là hai lý thuyết điển hình cho thấy về sức mạnh của truyền thông cùng với sức mạnh của khoa học và công nghệ đã đồng thời tạo thành một chỉnh thể của hình thái ý thức xã hội chi phối đời sống tinh thần xã hội cũng như bản thân đời sống thực tiễn xã hội. Theo nghĩa đó, việc chỉ ra sức mạnh của triết học về truyền thông từ các lý thuyết cơ bản được hình thành trên thế giới có một ý nghĩa tham khảo đối với Việt Nam trong thời đại cách mạng công nghiệp 4.0 hiện nay.

Đào tạo báo chí - truyền thông theo định hướng phát triển năng lực: Quan niệm, triển vọng và giải pháp thúc đẩy

Đào tạo báo chí - truyền thông theo định hướng phát triển năng lực: Quan niệm, triển vọng và giải pháp thúc đẩy

LLCTTT - Đào tạo báo chí - truyền thông theo định hướng phát triển năng lực là sự kế thừa và phát huy mô hình đào tạo theo chuẩn đầu ra. Mô hình này được xây dựng với nhận thức rằng, đào tạo báo chí - truyền thông là đào tạo mang tính thực hành nhằm tạo ra những người hành nghề, chứ không phải những nhà nghiên cứu báo chí - truyền thông. Việc xây dựng khung quy chuẩn năng lực báo chí - truyền thông ở cấp độ cơ sở đào tạo và ở cấp độ quốc gia là giải pháp cần thiết để biến mô hình này từ triển vọng thành hiện thực.

XEM THÊM TIN