Ngăn chặn nhóm lợi ích trong thực thi chính sách xây dựng cơ bản

Thứ hai, 14:28 11-10-2021
Bài viết khẳng định chính sách xây dựng cơ bản là chính sách phát triển hạ tầng kỹ thuật xã hội, thực thi chính sách xây dựng cơ bản là tiền đề quan trọng thúc đẩy nền kinh tế phát triển; chỉ ra một số bất cập trong chính sách và trong thực thi chính sách xây dựng cơ bản - thuộc lĩnh vực đầu tư công; xác định một số giải pháp căn cốt khắc phục sự trục lợi của nhóm lợi ích trong lĩnh vực xây dựng cơ bản.

Xây dựng cơ bản và đầu tư xây dựng cơ bản trong nền kinh tế quốc dân là một bộ phận quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội. Đây chính là quá trình tiến hành các hoạt động xây dựng cơ bản nhằm tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng ra các tài sản cố định trong nền kinh tế. Do vậy, thực thi chính sách xây dựng cơ bản là một trong những bước đi ban đầu, mang tính tiền đề thúc đẩy nền kinh tế nói chung và các cơ sở sản xuất kinh doanh nói riêng phát triển.Với tầm quan trọng như thế, ở Việt Nam, đây là lĩnh vực không chỉ đem lại lợi ích cho nền kinh tế, mà nó đồng thời cũng là lĩnh vực béo bở cho nhóm lợi ích hoành hành và trục lợi, làm giàu một cách bất chính.

1. Thực thi chính sách xây dựng cơ bản là một bộ phận quan trọng trong thực thi chính sách công; do đó, Nhà nước Việt Nam đã rất chú trọng xây dựng văn bản pháp luật nhằm đảm bảo cho hoạt động trong lĩnh vực này được vận hành đúng hướng và hiệu quả. Các bộ luật như Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Đấu thầu, Luật Xây dựng… đã được soạn thảo và được Quốc hội thông qua, nhanh chóng đi vào cuộc sống.

Liên quan đến lĩnh vực xây dựng cùng với Luật Xây dựng, Chính phủ đã ban hành Nghị định về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình; về quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình… Tuy nhiên, cho đến trước năm 2003, các Nghị định và Điều lệ quản lý đầu tư xây dựng được Chính phủ ban hành chủ yếu mới tập trung vào lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản, xây dựng các khu nhà ở và chưa được luật hóa.

Năm 2003, một dấu mốc quan trọng trong công cuộc hoàn thiện hệ thống pháp luật ngành xây dựng được ghi nhận khi tại kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XI đã thông qua Luật Xây dựng số 16/2003/QH11. Đây cũng là văn bản luật đầu tiên điều chỉnh các quan hệ xã hội trong lĩnh vực đầu tư xây dựng. Trong các năm tiếp theo, Quốc hội cũng đã lần lượt thông qua Luật Nhà ở (năm 2005), Luật Kinh doanh Bất động sản (năm 2006), Luật Quy hoạch Đô thị (năm 2009).

Năm 2014, Bộ Xây dựng đã hoàn thành trình Quốc hội thông qua 03 dự án Luật quan trọng gồm: Luật Xây dựng sửa đổi, Luật Nhà ở sửa đổi và Luật Kinh doanh Bất động sản sửa đổi, thay thế các Luật trước đó với những quan điểm, tư tưởng đổi mới mang tính đột phá nhằm tạo lập môi trường đầu tư kinh doanh bình đẳng, thông thoáng. Trong năm 2018, Bộ Xây dựng tiếp tục đẩy nhanh tiến độ soạn thảo, trình Quốc hội dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xây dựng, Luật Nhà ở, Luật Kinh doanh bất động sản và Luật Quy hoạch đô thị. Liên quan đến công tác quy hoạch, Chính phủ đã ban hành Nghị định về lập, phê duyệt và quản lý quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội; Nghị định về qui hoạch xây dựng.  Cùng với các Nghị định của Chính phủ, các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, các bộ liên quan đã ban hành nhiều thông tư, quyết định hướng dẫn các vấn đề cụ thể thuộc phạm vi trách nhiệm quản lý của đơn vị mình.

Nhìn chung, hệ thống pháp luật liên quan đến xây dựng cơ bản ngày càng được hoàn thiện, đồng bộ hơn, hiệu lực pháp lý cao hơn và phù hợp với thực tế hơn. Các nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ vốn đầu tư được ban hành đảm bảo tính công khai, minh bạch và công bằng. Các Luật và Nghị định hướng dẫn mới ban hành nói chung phù hợp với chủ trương, đường lối, tiến trình hội nhập quốc tế; đồng thời, bổ sung thêm các nội dung mới về quản lý xây dựng cơ bản phù hợp với tình hình mới.

Các văn bản ban hành đã thực hiện theo đúng chủ trương phân cấp, tăng quyền hạn cho các bộ, ngành và các địa phương; đồng thời, đã gắn quyền hạn với trách nhiệm một cách cụ thể, rõ ràng, đặc biệt là đối với các chủ đầu tư; tăng cường vai trò và trách nhiệm cá nhân, từng bước qui định cụ thể chế tài xử phạt. Các văn bản ban hành phù hợp với Luật ban hành văn bản qui phạm pháp luật, thể hiện ở các mặt: các Nghị định ban hành đã tuân thủ các qui định tại các luật; các thông tư hướng dẫn và quyết định phù hợp với nghị định và không chồng chéo chức năng, nhiệm vụ, nội dung quản lý. Những văn bản pháp luật có sự mâu thuẫn, chồng chéo đã được xem xét, nghiên cứu điều chỉnh, sửa đổi.

Tuy nhiên, trong vận hành thực thi các văn bản quy phạm pháp luật xây dựng cơ bản cũng đã bộc lộ một số vấn đề như một số quy định của pháp luật còn sơ hở, chồng chéo, thậm chí có mâu thuẫn với nhau; các quy định về điều chỉnh dự án đầu tư khi có biến động bất thường về giá nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu, tỷ giá hối đoái hoặc thay đổi các chế độ, chính sách còn chưa thật chặt chẽ và chưa theo kịp với những biến động của thị trường… Hay như Luật Xây dựng bắt buộc các nhà thầu phải bảo lãnh thực hiện hợp đồng nhưng lại không có quy định các nhà đầu tư phải bảo lãnh thanh toán - điều này dẫn đến việc 100% các nhà thầu đều có nợ đọng trong xây dựng cơ bản.

Những bất cập trên đây của hệ thống luật pháp, chính sách về xây dựng cơ bản dễ tạo những điều kiện thuận lợi cho các nhóm lợi ích lách luật, hòng thu lợi bất chính trong lĩnh vực này.

2. Xây dựng cơ bản và đầu tư xây dựng cơ bản là một lĩnh vực có lợi nhuận khủng, vì thế trong lĩnh vực này, tham nhũng, lợi ích nhóm là hiện tượng không còn là mới, nếu không muốn nói là thường xuyên xảy ra.

Với tầm quan trọng của xây dựng cơ bản đối với phát triển kinh tế - xã hội, Chính phủ Việt Nam đã đầu tư mạnh mẽ vốn cho xây dựng cơ bản. Trong giai đoạn 2016 - 2020, tổng vốn đầu tư cơ bản liên tục tăng, đạt trên 1.400.000 tỷ đồng vào năm 2019. Hàng chục công trình trọng điểm của Nhà nước đã được đầu tư hàng tỷ USD để xây dựng, cải tạo và đưa vào hoạt động đã làm thay đổi diện mạo kinh tế - xã hội của đất nước, góp phần quan trọng bảo đảm cho tăng trưởng kinh tế.

Tuy nhiên, phải thừa nhận rằng, đây là lĩnh vực phát sinh vè bộc lộ nhiều tiêu cực nhanh và mạnh đến nhức nhối. Báo cáo của Ðoàn giám sát Quốc hội về xây dựng cơ bản và đầu tư xây dựng cơ bản đã cho thấy điều đó: Trong số 1.505 dự án về xây dựng được kiểm tra, có 176 dự án vi phạm quy định về thẩm định dự án; 198 dự án, công trình vi phạm quy chế đấu thầu; 802 dự án, công trình thi công sai thiết kế, sai chủng loại vật tư, thiết bị, không phê duyệt khối lượng phát sinh, vi phạm các quy định về trình tự thủ tục trong quản lý đầu tư xây dựng, về quản lý chất lượng, nghiệm thu, thanh toán công trình(1).

Báo cáo của Ðoàn giám sát còn cho biết thêm: Trong số 1.505 dự án nói trên, có 415 dự án, công trình vi phạm về thiết kế, khảo sát; 720 dự án, công trình vi phạm quy định trong giai đoạn đưa công trình vào khai thác, sử dụng(2). Báo cáo của Tổng hội Xây dựng Việt Nam về 59 công trình xây dựng có biểu hiện lãng phí, thất thoát cho thấy, có 27% các công trình do chất lượng kém, phải bổ sung kinh phí mới sử dụng được; 36% các công trình không sử dụng được do chọn địa điểm xây dựng không thích hợp, chất lượng kém (đặc biệt là các công trình của chương trình 135); 25% các công trình do quyết toán khống làm thất thoát gần 300 tỷ đồng, riêng Công trình đường Thạch Yên - Công Sự của tỉnh Kiên Giang thất thoát tới 58,6% vốn đầu tư(3)...

Theo một nghiên cứu, tỷ lệ thất thoát lãng phí các công trình đầu tư từ ngân sách nhà nước tại Việt Nam khoảng 15(4), tương ứng số tiền thất thoát hàng chục ngàn tỷ đồng mỗi năm và làm giảm tăng trưởng kinh tế mỗi năm 3,75%, tương ứng khoảng 100 ngàn tỷ đồng cơ hội tăng trưởng kinh tế mất đi cho nền kinh tế mỗi năm.

Trong hai năm 2002 - 2003, thanh tra chuyên ngành xây dựng đã tổ chức thanh tra 31 dự án xây dựng với tổng vốn đầu tư là 17.300 tỷ đồng, thì cả 31 dự án đều có sai phạm với số tiền thất thoát, lãng phí lên đến 2.070 tỷ đồng.

Trong lĩnh vực xây dựng cơ bản, khu vực mà lợi ích nhóm hoạt động khá rõ nét là xây dựng kết cấu hạ tầng. Nhiều dự án như dự án phát triển cơ sở hạ tầng đô thị Bắc Thăng Long - Vân Trì, Hà Nội, tham nhũng, lãng phí khiến thiệt hại ước tính khoảng 14 tỷ đồng; 2000 ngôi nhà tình thương cho dân nghèo ở tỉnh Bình Phước, vốn đầu tư mỗi nhà 6 triệu, tổng chi phí 12 tỉ đồng, nhưng thực tế chỉ chi 3 triệu/mỗi nhà (giảm 50%) nên chất lượng công trình kém.

Dự án Trung tâm chế biến thủy sản xuất khẩu tại khu công nghiệp Sóng Thần (Bình Dương), chưa thực hiện đã quyết toán khống 430,6 triệu, chi ngoài danh mục công việc được duyệt 224,1 triệu. Dự án này bỏ dở và chuyển mục đích sử dụng, sơ bộ thất thoát 1,6 tỉ đồng, bằng 9,8% vốn đầu tư. Cảng cá Cát Lở quyết toán 218,6 tỉ đồng, nhưng giá trị thực tế 72,6 tỉ đồng chênh lệch 146 tỉ đồng không giải thích được.

Quá trình xây dựng cầu Hoàng Long (tuyến Hà Nội - Vinh) đã thất thoát gần 3 tỉ đồng, chất lượng xây dựng kém, phải đầu tư thêm 10  tỉ đồng để sửa chữa. Ở tỉnh Bắc Giang, lợi ích nhóm đang xâu xé hàng loạt dự án, như tại huyện Việt Yên, Bắc Giang, các dự án xây dựng cơ bản như hoàn thiện hệ thống hạ tầng khu dân cư dịch vụ, cải tạo nâng cấp đường, cải tạo kênh mương, cải tạo hồ điều hòa… với tổng số vốn gần 100 tỷ đồng nhưng Ban quản lý dự án Đầu tư xây dựng huyện Việt Yên chỉ thực hiện việc đấu thầu cho có.

Một hiện tượng câu kết của nhóm lợi ích là bán thầu hưởng chênh lệch như khi xây dựng nhà thi đấu Phú Thọ thành phố Hồ Chí Minh, đơn vị trúng thầu chuyển nhượng 3 gói thầu hệ thống cấp thoát nước, chống sét, phòng cháy chữa cháy lấy chênh lệch 2,8 tỉ đồng/19,3 tỉ giá trị hợp đồng, chiếm 11,8%, Công ty kiểm định xây dựng khoán lại cho đơn vị thành viên hưởng 283,9 triệu/658,4 triệu giá trị hợp đồng, chiếm 43%. Một đơn vị trúng thầu thi công hạ tầng bán lại thầu cho Công ty TNHH hưởng 205 triệu đồng. Một Tổng công ty xây dựng trúng thầu giao khoán cho Công ty Cổ phần thành viên, nhưng Công ty này bán thầu lại cho 5 đơn vị khác lấy 1,8 tỉ. Đơn vị trúng thầu mở rộng đường DT-745 (Bình Dương) đã bán thầu lại hưởng chênh lệch 124,5 triệu đồng.

Trong xây dựng các công trình giao thông, theo đánh giá của Bộ Xây dựng thì vốn đầu tư đường cao tốc của Việt Nam cao hơn hẳn so với các nước trên thế giới. Cụ thể: so với Trung Quốc, nếu tính bình quân thì suất vốn đầu tư đường cao tốc (4 làn xe) của Việt Nam cao hơn của Trung Quốc 1,4 lần; suất vốn đầu tư đường cao tốc (6 làn xe) của Việt Nam cao hơn của Trung Quốc 1,74 lần. So với các nước châu Âu (Đức, Bồ Đào Nha, Hungari, Áo) thì suất vốn đầu tư đường cao tốc (6 làn xe) của Việt Nam cao hơn 1,63 lần(5). Dự án đường vành đai 1 (Hà Nội) liên tiếp lập kỷ lục “tuyến đường đắt nhất Việt Nam” khi chi phí làm một mét đường lên tới 2,5 tỉ đồng.

Lợi ích nhóm trong xây dựng cơ bản nói chung, xây dựng các công trình giao thông nói riêng nằm ở giai đoạn xác định chủ đầu tư, một số cơ quan quản lý và các doanh nghiệp thông đồng về quyết định đầu tư, xác định chủ đầu tư, đơn vị thi công nhằm tạo thành một tổ hợp lợi ích, chiếm đoạt tài sản Nhà nước (thường được gọi là “chạy dự án”). Trong xác định đơn vị thi công, lợi ích nhóm thường thấy qua việc chủ ý tạo điều kiện cho một đơn vị nhất định trúng thầu, từ đó làm sai lệch mục đích, yêu cầu, nguyên tắc của việc đấu thầu, thông qua các sai phạm về kế hoạch đấu thầu, hồ sơ mời thầu, xét thầu…

Trong các trường hợp phổ biến khác, nhóm lợi ích tham gia dự thầu theo kiểu “quân xanh, quân đỏ” để dàn xếp quyền lợi, đơn vị trúng thầu chia sẻ nguồn lợi từ số vốn đầu tư cho dự án xây dựng công trình khiến nội dung công trình bị bớt xén, hoặc sau đó các đơn vị thi công, chủ đầu tư lại thỏa thuận với nhau để tạo lý do xin bổ sung kinh phí nhằm bù vào phần kinh phí đã bị chiếm đoạt rồi chia chác.

Trong giai đoạn chuẩn bị xây dựng, sai phạm phổ biến là ở khâu thiết kế kỹ thuật và dự toán công trình khi chủ đầu tư và đơn vị thi công móc ngoặc với thiết kế để điều chỉnh thiết kế, lập dự toán cao hơn thực tế, kết hợp với quá trình thi công để móc tiền Nhà nước... Ở khâu quản lý thi công và giám sát, các nhóm lợi ích cũng liên kết thực hiện việc điều chỉnh thiết kế và dự toán sai thực tế để rút nguyên vật liệu, bớt xén, thay nguyên liệu trực tiếp tại công trình… Ngoài ra,  nhóm lợi ích cũng cố kết trong việc sử dụng đất và giải phóng mặt bằng để thực hiện các công trình giao thông, lợi dụng chính sách, quy hoạch để thông đồng trục lợi từ việc sử dụng trái phép đất đai sử dụng vào giao thông, kết cấu hạ tầng công trình, nâng khống giá đền bù hoặc ăn chặn tiền đền bù của người dân dẫn đến khiếu kiện kéo dài, công trình bị ách tắc.

Trong quy hoạch cũng có sự lũng đoạn của nhóm lợi ích. Cả nước có 1.390 dự án điều chỉnh quy hoạch từ 1 đến 6 lần.  Quy hoạch được điều chỉnh luôn có xu hướng tăng tối đa lợi ích cho nhà đầu tư, giảm tối đa các diện tích công cộng và lợi ích của người sử dụng như tăng số tầng, tăng diện tích sàn, chia nhỏ diện tích căn hộ, tăng mật độ xây dựng rồi giảm diện tích cây xanh đồng thời các khu tái định cư cho dân lại có chỉ tiêu hạ tầng, các tiện ích, chất lượng công trình là thấp nhất.

Một trong những lĩnh vực của thực thi chính sách xây dựng cơ bản có nhiều bất cập, thể hiện sự thông đồng của một bộ phận cán bộ, đảng viên thuộc bộ máy công quyền với các doanh nghiệp để kiếm lợi là các dự án đổi đất lấy hạ tầng (BT). Các dự án BT thực chất là sử dụng nguồn lực ngân sách Nhà nước, vốn đầu tư chủ yếu là vốn vay (khoảng 85%) và được tính lãi, với lãi suất tối đa huy động bằng 1,3 lần lãi suất trái phiếu Chính phủ. Gần như toàn bộ dự án là vốn của Nhà nước hoặc là vốn của Nhà nước đi vay với mức lãi suất cao hơn lãi suất Nhà nước huy động để đầu tư thực hiện dự án. Điều này dẫn đến việc thực hiện dự án BT không thực sự giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước.

3. Là một hiện tượng xã hội, nhóm lợi ích ở Việt Nam thường được hiểu theo nghĩa tiêu cực - đó là các nhóm lợi ích đặc quyền, đặc lợi (còn được gọi là “nhóm thân hữu”), hình thành có tổ chức, thao túng và hoạt động độc quyền trong một số lĩnh vực, nhất là các lĩnh vực trọng yếu; trong đó có xây dựng cơ bản.

Như đã nói ở trên, xây dựng cơ bản là lĩnh vực rất dễ nảy sinh sự cấu kết của các nhóm lợi ích; vì thế, để lĩnh vực này thực sự mang lại hiệu quả cho xã hội, cần có các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn sự thao túng của các nhóm lợi ích này. Trước tiên, có thể kể đến một số giải pháp căn cốt sau:

Một là, hoàn thiện hành lang pháp lý trong tổ chức thực hiện chính sách xây dựng cơ bản.

Quá trình thực hiện chính sách xây dựng cơ bản, về mặt pháp lý, chịu sự tác động, bị ảnh hưởng và quy định bởi hệ thống pháp luật, các quy định pháp lý chung (điều chỉnh vĩ mô) và những văn bản pháp quy về thực thi chính sách công (các văn bản dưới luật) do các Bộ, ban, ngành đưa ra. Vì thế, ngăn chặn lợi ích nhóm trong thực thi chính sách xây dựng cơ bản, bước đi đầu tiên, quan trọng nhất là xây dựng và không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan hoặc về lĩnh vực này.

Hiện nay, trong thực thi chính sách xây dựng cơ bản, hệ thống pháp luật của Việt Nam còn thiếu toàn diện, chưa đồng bộ, chưa bao trùm toàn bộ mọi vấn đề của xây dựng cơ bản và chưa giải quyết hoàn toàn thỏa đáng những bất cập nảy sinh. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật chưa toàn diện, chưa đồng bộ, nhiều lĩnh vực cụ thể của thực thi chính sách xây dựng cơ bản vẫn chưa có luật, tính khả thi của nhiều văn bản quy phạm phạm luật chưa cao. Đây là một trong những nhược điểm nghiêm trọng mà các nhóm lợi ích dựa vào đó để tìm kiếm lợi ích mà ví dụ trong xây dựng các BOT chỉ định nhà đầu tư là một ví dụ điển hình.

Ngoài ra, còn có nhiều bộ luật, đạo luật đã ban hành nhưng chưa đi vào cuộc sống, bởi vì còn chung chung, chưa toàn diện, khó thực hiện; để thực hiện luật cần phải có nhiều văn bản dưới luật để hướng dẫn thực hiện luật của các cơ quan nhà nước khác. Có thể thấy rằng, chất lượng của các đạo luật, pháp lệnh được ban hành chưa cao, còn dừng  lại ở những  nguyên tắc chung, chờ văn bản hướng dẫn  mới đi vào cuộc sống. Ngoài ra, trình độ lập pháp của các cơ quan chức năng còn nhiều bất cập, công tác triển khai thực hiện cũng chậm chễ. Tình trạng nợ đọng văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành chính sách chưa được giải quyết cơ bản và vững chắc; nhiều văn bản quy định chi tiết tuy đã được ban hành nhưng chậm tiến độ.

Tóm lại, để có một hành lang pháp lý đáp ứng yêu cầu ngăn chặn nhóm lợi ích trong thực thi chính sách xây dựng cơ bản, phải có cơ chế, chính sách giải quyết dứt điểm tình trạng luật chờ nghị định, nghị định chờ thông tư hoặc nghị định đã hết hiệu lực thi hành nhưng thông tư hướng dẫn vẫn tồn tại. Cần rà soát, điều chỉnh hoặc loại bỏ những văn bản pháp luật về thực thi chính sách công không phù hợp hoặc có vấn đề. Việc ra soát văn bản phải được tiến hành khẩn trương, nhưng cũng phải cẩn trọng và cầu thị để phát hiện đúng, trúng những bất cập, vướng mắc cần được sửa đổi, bổ sung. Đối với việc xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật liên quan đến thực thi chính sách xây dựng cơ bản cần đảm bảo những văn bản pháp luật được  thể  chế hoá một cách thống nhất, đồng bộ, nhất quán, ổn định và rõ ràng.

Xác lập cơ chế đủ mạnh và hiệu quả trong việc xử lý trách nhiệm (gồm cả tài phán hành chính) đối với cán bộ, công chức tham mưu soạn thảo, thẩm định, trình, thông qua và ký ban hành văn bản trái pháp luật và xử lý đối với cơ quan, người có thẩm quyền không xử lý hoặc xử lý không đúng quy định pháp luật đối với văn bản trái pháp luật đã được phát hiện.

Lợi ích nhóm là sự câu kết của những nhóm lợi ích với những cán bộ đương chức thoái hoá biến chất để có được những cơ chế, chính sách có lợi cho mình. Thế nên, xóa đi những lỗ hổng cơ chế, triệt để xoá bỏ cơ chế “xin - cho”, “duyệt - cấp”, tăng cường minh bạch, công khai là con đường cần thiết và hiệu quả chống lại nhóm lợi ích.

Hai là, đảm bảo tính minh bạch và trách nhiệm giải trình trong tổ chức thực hiện chính sách xây dựng cơ bản.

Trách nhiệm giải trình trong tổ chức thực hiện chính sách xây dựng cơ bản là cung cấp thông tin, giải thích, trả lời một cách công khai, minh bạch gắn liền với việc thực hiện trách nhiệm và chịu trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia vào các khâu thuộc quy trình tổ chức thực hiện chính sách xây dựng cơ bản. Đây là phương thức hữu hiệu để kiểm soát quyền lực, ngăn chặn nhóm lợi ích thâu tóm quyền lực và thao túng quá trình tổ chức thực hiện chính sách xây dựng cơ bản. Nếu không công khai, minh bạch sẽ dẫn đến sự tùy tiện hoặc sai lầm trong việc thực thi quyền hạn, có những mờ ám, những chương trình, dự án sai lầm, dẫn đến quan liêu, tham nhũng.

Bản chất của trách nhiệm giải trình là hướng đến sự công khai, minh bạch, dân chủ. Minh bạch trong hoạt động của các chủ thể tham gia vào quá trình tổ chức thực thi chính sách xây dựng cơ bản là những thông tin về chính sách được cung cấp kịp thời cho người dân dưới hình thức dễ sử dụng; các quyết định và quy định của các cơ quan phải rõ ràng và được phổ biến đầy đủ. Công khai và minh bạch là điều kiện tiên quyết để chủ thể có trách nhiệm thực sự trước nhân dân trong mọi hoạt động, tránh tạo ra những điều kiện thuận lợi cho nhóm lợi ích tác động đến quy trình tổ chức thực hiện chính sách xây dựng cơ bản, nhằm vơ vét của cải, làm giầu cho cá nhân.

Tổ chức thực thi chính sách xây dựng cơ bản không chỉ là việc riêng của các chủ thể chính sách như nhà nước, các chuyên gia… mà đòi hỏi trách nhiệm và sự tham gia của cả cộng đồng. Mặc dù, các nhà lãnh đạo, các chuyên gia có năng lực, chuyên môn, có kinh nghiệm, nhưng cũng không tránh khỏi những hạn chế như bảo thủ, quan liêu, chủ quan, trì trệ, chủ nghĩa kinh nghiệm... Muốn nâng cao chất lượng tổ chức thực thi chính sách xây dựng cơ bản, cần coi trọng sự tranh luận rộng rãi, đối thoại công khai giữa chủ thể thực thi chính sách xây dựng cơ bản với các chuyên gia, với các bên liên quan và nhân dân bằng các hình thức tham vấn, thảo luận dân chủ.

Lưu ý thêm rằng, trách nhiệm giải trình được thể hiện qua nhiều phương diện, nhiều cách thức khác nhau, gồm giải trình chủ động và giải trình theo yêu cầu, giải trình thường xuyên theo định kỳ hay đột xuất. Do đó, cần xác định chủ thể có trách nhiệm giải trình phù hợp với trình tự, thủ tục giải trình, nội dung giải trình… Như vậy, xuất hiện yêu cầu đòi hỏi cần nâng cao hơn nữa nhận thức của các nhà làm luật, đề xuất sáng kiến về xây dựng luật và các ban ngành liên quan để có thể sớm hình thành quy định hệ thống, đầy đủ về trách nhiệm giải trình của các cơ quan liên quan trong tổ chức thực thi chính sách xây dựng cơ bản, hình thành một thể chế trách nhiệm giải trình ngày càng đầy đủ, hoàn thiện hơn. Nói cách khác, để nâng cao, tăng cường việc thực hiện trách nhiệm giải trình trong tổ chức thực hiện chính sách xây dựng cơ bản, cần bổ sung và sửa đổi các quy định về trách nhiệm giải trình trước các bên liên quan và xã hội; cụ thể hóa khung pháp luật về quyền tiếp cận thông tin, công khai, minh bạch thông tin…

Cần nhận thức rõ ràng rằng, để tiêu trừ những yếu tố gây nên bất bình đẳng xã hội, tạo điều kiện để nảy sinh, phát triển các nhóm lợi ích bất minh, nhóm người thuộc phạm vi điều chỉnh của chính sách phải được tiếp cận thông tin. Thiếu minh bạch thông tin là một hình thức gây “mù chính trị”, “gây nhiễu” chính trị, bịt mắt nhân dân, hạn chế giác ngộ chính trị, hạn chế quyền làm chủ, hạn chế thực hiện dân chủ trực tiếp của người dân, tạo cơ hội, kẽ hở cho tầng lớp đặc quyền đặc lợi tồn tại, lộng hành, trục lợi bất chính, làm gia tăng các nhóm lợi ích có hại cho xã hội.

Ba là, quy định rõ ràng cơ chế chịu trách nhiệm của cán bộ, công chức thực thi chính sách cơ bản.

Ở Việt Nam hiện nay, lợi ích nhóm “có đặc trưng là liên quan đến những người có chức, có quyền, nhất là quyền liên quan đến cán bộ, tài chính, ngân sách, đầu tư, đất đai, hầm mỏ, rừng, biển”(6). Bên cạnh đó, tình trạng thiếu năng lực, trình độ hạn chế, thói hách dịch, cửa quyền, quan liêu, tham nhũng của một bộ phận cán bộ, công chức trong thực thi chính sách đang là một trong những nguyên nhân cản trở, thậm chí đi ngược lại mục tiêu của chính sách. Do vậy, để cán bộ, công chức tham gia vào quá trình thực thi chính sách xây dựng cơ bản không thể và không dám nghĩ đến việc tham nhũng, bắt tay với các nhóm lợi ích, cần có những quy định hết sức chặt chẽ về trách nhiệm và chịu trách nhiệm của họ trước công việc đang làm.

Trách nhiệm của cán bộ, công chức trong tổ chức thực thi chính sách xây dựng cơ bản là phải hành động phù hợp với quy định của pháp luật, lựa chọn phương án hành động tối ưu và hợp lý nhất, báo cáo kết quả hoạt động và gánh chịu những hậu quả do không thực hiện hay thực hiện không đúng các nghĩa vụ của mình. Thực hiện cơ chế tự chịu trách nhiệm trong thực thi chính sách xây dựng cơ bản, cần kiên quyết xử lý nghiêm và kịp thời các cá nhân, lãnh đạo, cán bộ, công chức vi phạm quy định, vô trách nhiệm để thất thoát các nguồn lực công. Thay thế kịp thời những cán bộ, công chức yếu kém về năng lực, trình độ, suy thoái đạo đức, gây nhũng nhiễu, tiêu cực trong thực thi chính sách và khi nảy sinh vấn đề hoặc bị thanh tra thì tìm cách chạy tội, đổ lỗi cho cấp dưới, trốn tránh trách nhiệm. Cũng cần xử lý đối với những cán bộ, công chức làm việc đúng, nhưng chưa đủ để tạo ra kết quả theo yêu cầu, làm việc thiếu hiệu quả, hoặc làm việc một cách cầm chừng, làm vừa đủ bổn phận, chưa năng động, tích cực, dốc hết sức mình trong công việc.

Cần xây dựng và vận hành một cơ chế chịu trách nhiệm một cách đầy đủ, rõ ràng đối với cán bộ công chức tham gia tổ chức thực hiện chính sách xây dựng cơ bản gắn với việc xử lý vi phạm nghiêm minh khi để xảy ra tham nhũng, lãng phí, hoặc có biểu hiện câu kết với các nhóm lợi ích.

Thiết lập và thực hiện nghiêm minh chế độ bãi miễn đối với lãnh đạo mất tín nhiệm, vô trách nhiệm. Muốn vậy, cần tăng cường sức mạnh, quyền hạn của các cơ quan có chức năng kiểm tra, giám sát; đồng thời, xây dựng cơ chế để nhân dân có thể trực tiếp tham gia vào quá trình bãi miễn những quan chức thoái hóa, biến chất, phạm tội. Chỉ dưới áp lực đó, người lãnh đạo, bộ máy lãnh đạo mới thực sự toàn tâm, toàn ý, toàn lực cống hiến, phục vụ nhân dân, phục vụ lợi ích của đa số./.

 ________________________________________________

(1), (2), (3) Trích theo Lê Thế Tiệm, Phòng, chống tham nhũng trong xây dựng cơ bản, Báo Nhân dân, 17.9.2010.

(4) Glenn P. Jenkins:Prioritization of Public Investment Projects in Vietnam,https://cri-world.com /publications/ qed_dp_305.pd

(5) Một km đường cao tốc ở Việt Nam giá bao nhiêu? Kinh tế Sài Gòn, 15.6.2017.

(6) TS Lê Đăng Doanh, Đổi mới tư duy và cải cách thể chế những yêu cầu từ thực tiễn, Từ bất ổn vĩ mô đến con đường tái cơ cấu, Dự án “Hỗ trợ nâng cao năng lực tham mưu, thẩm tra và giám sát chính sách kinh tế vĩ mô” do Ủy ban Kinh tế của Quốc hội chủ trì với sự tài trợ của Chương trình Phát triển Liên hiệp quốc tại Việt Nam (UNDP), tr.277-278.

 


Nguồn: Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị và Truyền thông tháng 3.2021

PGS,TS Đoàn Thị Minh Oanh

Học viện Báo chí và Tuyên truyền

Xem nhiều

Hội thảo khoa học quốc gia “Kinh tế truyền thông: Lý luận, thực tiễn và kinh nghiệm”

Sáng 01.10.2021, Học viện Báo chí và Tuyên truyền phối hợp với Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật tổ chức Hội thảo khoa học quốc gia với chủ đề: “Kinh tế truyền thông: Lý luận, thực tiễn và kinh nghiệm”. Để đảm bảo an toàn phòng, chống dịch Covid-19, Hội thảo được tổ chức bằng hình thức trực tiếp và trực tuyến trên nền tảng Microsoft Teams.

Đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy hệ thống chính trị theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng

Đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy hệ thống chính trị theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng

Đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị luôn được Đảng ta quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo. Đại hội XIII của Đảng nêu những định hướng lớn cho nhiệm vụ xây dựng, đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị đến năm 2030.

Tư duy phát triển kinh tế - xã hội trong bối cảnh mới

Tư duy phát triển kinh tế - xã hội trong bối cảnh mới

Việt Nam đang ở thời điểm quan trọng để chuyển mình phát triển nhanh và bền vững, vì vậy cần chủ động lựa chọn mục tiêu và con đường phát triển nhằm bảo đảm thực hiện tốt Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021 - 2030 và Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021 - 2025.

“Khát vọng phát triển đất nước” – Bài học nhìn từ thế giới và lịch sử phát triển Việt Nam

“Khát vọng phát triển đất nước” – Bài học nhìn từ thế giới và lịch sử phát triển Việt Nam

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã thành công tốt đẹp, mở ra hành trình đưa đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới với khí thế mới, sức bật mới và một lộ trình rõ ràng để “cất cánh”. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng có nhiều điểm mới, từ chủ đề của Đại hội, hệ quan điểm chỉ đạo, đến cách tiếp cận xác định mục tiêu, nhiệm vụ trọng tâm, các đột phá chiến lược…, trong đó có nhận thức mới về sức mạnh nội sinh trong bối cảnh mới, là “khát vọng phát triển đất nước”.

Định hướng giải pháp thực hiện ba đột phá chiến lược theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng

Định hướng giải pháp thực hiện ba đột phá chiến lược theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng

Đại hội lần thứ XIII của Đảng khẳng định ba đột phá chiến lược (hoàn thiện đồng bộ thể chế; phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao; xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng) vừa kế thừa ba đột phá chiến lược do Đại hội lần thứ XI, XII đã đề ra, vừa bổ sung, cụ thể hóa cho phù hợp với giai đoạn phát triển mới. Vì vậy, cần huy động đầu tư nguồn lực và đặc biệt tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, tạo sự chuyển biến về chất trong việc thực hiện ba đột phá chiến lược.

XEM THÊM TIN