Thứ sáu, 17:47 15-01-2021

Nhận thức lý luận về dân chủ qua các Văn kiện Đại hội XI của Đảng

Thứ sáu, 17:47 15-01-2021
Đổi mới ở Việt Nam là đổi mới theo định hướng XHCN. Lý tưởng, mục tiêu và con đường phát triển của Việt Nam mà Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn, mà Đảng và nhân dân ta kiên trì thực hiện là độc lập dân tộc gắn liền với CNXH.

Đổi mới ở Việt Nam là đổi mới theo định hướng XHCN. Lý tưởng, mục tiêu và con đường phát triển của Việt Nam mà Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn, mà Đảng và nhân dân ta kiên trì thực hiện là độc lập dân tộc gắn liền với CNXH.

Đổi mới ở Việt Nam là đổi mới theo định hướng XHCN. Lý tưởng, mục tiêu và con đường phát triển của Việt Nam mà Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn, mà Đảng và nhân dân ta kiên trì thực hiện là độc lập dân tộc gắn liền với CNXH. Đây không chỉ là lý tưởng, mục tiêu mà còn là phương thức phát triển của Việt Nam. Phương thức ấy là quá độ lên CNXH, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa. Do bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa nên Việt Nam không trải qua nền dân chủ tư sản. Nền dân chủ mà nhân dân ta xây dựng dưới sự lãnh đạo của Đảng là nền dân chủ XHCN.

Thể chế dân chủ và chế độ chính trị nói chung ở nước ta, do đó không thể là dân chủ tư sản, không thể là nhà nước pháp quyền tư sản với mô hình tam quyền phân lập, dù rằng với tư duy đổi mới và chủ động, tích cực hội nhập quốc tế, chúng ta vẫn chú trọng học tập, tham khảo với tinh thần phê phán và có chọn lọc những thành tựu mà nền văn minh nhân loại đã đạt được trong lịch sử phát triển của chủ nghĩa tư bản.

Đây là một tất yếu khách quan được nhận thức chứ không phải thiên kiến chủ quan của bất cứ ai.

Dân chủ XHCN được sinh thành và phát triển trong tiến trình xây dựng CNXH, trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài, nhất là những nước quá độ lên CNXH, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, thuộc loại hình phát triển rút ngắn và theo phương thức quá độ gián tiếp như Việt Nam.

Trong lịch sử tiến hóa của các nền dân chủ mà nhân loại đã và đang trải qua, dân chủ XHCN là một hiện tượng lịch sử còn rất mới mẻ, còn rất non trẻ, nó đang hình thành chứ chưa trưởng thành, càng chưa phải đã thành thục và chín muồi. Nếu chủ nghĩa tư bản và nền dân chủ tư sản đã có lịch sử năm, sáu trăm năm nay, đã đi qua hai bước ngoặt lớn là thời đại Phục hưng và thế kỷ Khai sáng, từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII, lại đã trải qua những thời kỳ, những giai đoạn phát triển từ chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh đến chủ nghĩa tư bản độc quyền lũng đoạn trong mô hình của chủ nghĩa tư bản cổ điển những thế kỷ trước đây và hiện nay đã chuyển từ chủ nghĩa tư bản cổ điển sang chủ nghĩa tư bản hiện đại, hiện đang còn nhiều tiềm lực phát triển thì CNXH và nền dân chủ XHCN mới chỉ bắt đầu từ những năm 20 của thế kỷ XX, sau thắng lợi của Cách mạng tháng Mười Nga, 1917. Nó mới chưa đầy một thế kỷ. Sau sự đổ vỡ chế độ XHCN ở Liên Xô và Đông Âu, sự tan vỡ hệ thống XHCN, CNXH và dân chủ XHCN tiếp tục cải cách và đổi mới để tồn tại, phát triển, để tự hoàn thiện trong những điều kiện lịch sử mới với kinh tế thị trường, mở cửa, hội nhập quốc tế trong một thế giới toàn cầu hóa, biển đổi mau lẹ, khó lường. CNXH và dân chủ XHCN đang vận động trong những khó khăn, thách thức nhưng đây là những khó khăn, thách thức của sự trưởng thành. Vượt qua những khó khăn, thách thức đó, CNXH và dân chủ XHCN lại đứng trước những thời cơ, vận hội để phát triển và sẽ tự khẳng định mình. Triển vọng của CNXH là tích cực và dân chủ XHCN thuộc về bản chất, đặc trưng, là mục tiêu và động lực phát triển chế độ xã hội kiểu mới, có triển vọng đó. Sự khẳng định này thể hiện niềm tin khoa học có cơ sở lý luận và thực tiễn xác thực về CNXH và dân chủ XHCN, được chứng minh bởi lịch sử đã trải qua và hiện nay, chứ không phải giáo điều, chủ quan, tư biện. Dân chủ XHCN thuộc về trình độ hiện đại trong lịch sử phát triển dân chủ. Nó là sự phủ định biện chứng đối với dân chủ tư sản, cũng như CNXH thay thế chủ nghĩa tư bản bằng con đường phủ định biện chứng. Nó là một bước ngoặt lớn, sự phát triển mới về chất trong sự nghiệp giải phóng con người, đưa con người từ thân phận nô lệ tới tự do, ở địa vị người chủ và làm chủ xã hội.

Dân chủ XHCN là thành quả đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân và toàn thể những người lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, chống ách bóc lột, áp bức và nô dịch của chủ nghĩa tư bản, thực hiện quyền tự quyết của các dân tộc, đó là quyền tự do chính trị, quyền dân chủ và làm chủ của những người tự do, thực hiện bình đẳng và công bằng xã hội trong sự phát triển cho tất cả mọi người. Hơn 160 năm về trước, trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, C.Mác và Ph.Ăngghen đã khẳng định: sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người. Đây là mục đích tự thân của lịch sử. Đây cũng chính là bản chất nhân đạo, nhân văn của CNXH và chủ nghĩa cộng sản, là hướng đích của nền dân chủ XHCN. Trong tương lai, triển vọng của loài người, dù còn rất dài và rất xa, khi chủ nghĩa cộng sản đã toàn thắng, nhà nước đã đi trọn lôgic phát triển của mình và tự tiêu vong thì thiết chế chính trị của dân chủ cũng không còn cần thiết nữa. C.Mác và Ph.Ăngghen dự báo rằng, đến lúc đó, lịch sử sẽ tự tìm thấy một hình thức mới để con người tự quản lấy mọi công việc và hoạt động của mình với tư cách những chủ thể phát triển đầy đủ các năng lực tự do và sáng tạo. Đó là thể liên hợp cộng đồng của những con người tự do và làm chủ.

Ở đây, có hai điều quan trọng trong di sản kinh điển mácxít cần được nhận thức đúng.

Thứ nhất, về luận thuyết của V.I.Lênin cho rằng, khi nhà nước tự tiêu vong thì dân chủ trở nên thừa. Về thực chất, đó là sự đi hết cái giới hạn lịch sử của nhà nước, của hình thái biểu hiện trực tiếp của dân chủ chính trị. Theo nghĩa đó, chỉ dân chủ chính trị hay hình thức chính trị - pháp lý của dân chủ mới trở nên thừa, bởi nó là một phạm trù lịch sử. Lôgic phát triển của dân chủ đã chỉ rõ, muốn thực hiện dân chủ, kể cả dân chủ chính trị gắn với quyền thống trị (cai trị, quản trị, thống quản) của nhà nước thì phải bắt đầu từ tự do chính trị bằng cách giải phóng con người ra khỏi áp bức chính trị.

Tự do chính trị là tiền đề của dân chủ, đồng thời sự phát triển đầy đủ dân chủ sẽ đưa con người tới trình độ làm chủ thực chất, tới tự do đầy đủ, thực hiện sự phát triển hài hòa giữa cá nhân - cá thể với xã hội - cộng đồng. Trong bản chất sâu xa của nó, dân chủ không chỉ là hình thức thể chế quyền lực (nhà nước chính trị, xã hội chính trị) mà còn là giá trị xã hội, là thước đo của công cuộc giải phóng con người và nhân loại, thực hiện đầy đủ nhân tính, làm bộc lộ đầy đủ “sức mạnh bản chất người của con người” (C.Mác). Giá trị xã hội này của dân chủ là giá trị nhân văn, là năng lực văn hóa, cái tiêu chí đánh giá năng lực sáng tạo và trình độ tự do của con người; ở đó, con người phát triển mạnh mẽ về trí tuệ và hoàn thiện về đạo đức, nhân cách. Con người với tư cách con người mang bản tính và bản chất tự do. Phát triển đầy đủ và thực chất dân chủ là con đường đi tới tự do. Đấu tranh cho dân chủ, bình đẳng, công bằng trong suốt tiến trình lịch sử từ dã man tới văn minh là cuộc hành trình lâu dài của con người và loài người tới tự do, xứng đáng với con người và phẩm giá làm người. Theo đó, với tư cách là giá trị xã hội, là nhân văn và văn hóa, nhu cầu dân chủ, khát vọng tự do của con người là thường xuyên, mãi mãi, không bao giờ là thừa, nó thuộc phạm trù vĩnh viễn. Cái mà V.I.Lênin nói, dân chủ trở nên thừa chỉ với nghĩa là dân chủ chính trị trong xã hội có nhà nước. Mặt lịch sử của dân chủ, biểu hiện ở thể chế và thiết chế chính trị có thể mất đi nhưng mặt xã hội của dân chủ, các giá trị nhân văn, tự do và sáng tạo của chủ thể thì còn mãi. Dân chủ là một phạm trù kép, mang bản chất đa tầng, đa cấp độ. Từ luận thuyết của V.I.Lênin, cần phải chú ý tới tính phức tạp của dân chủ, không đồng nhất giản đơn giữa dân chủ với chính trị, không giản lược nội dung vốn rất phong phú của dân chủ vào cái duy nhất là dân chủ chính trị.

Thứ hai, tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen đã nêu trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản (1848) về sự phát triển hài hòa giữa cá nhân tự do và cộng đồng tự quản cũng như dự phóng tương lai của các ông về “thể liên hợp cộng đồng của những người tự do” (Xem “Hệ tư tưởng Đức”, 1846) cần phải được nhận thức và đánh giá là một trong những giá trị đặc sắc, ưu tú nhất, là giá trị bền vững nhất trong di sản kinh điển mà các ông để lại. Giá trị này làm nên sức sống, bản chất ưu việt, tầm cao tư tưởng nhân đạo và nhân văn cộng sản chủ nghĩa của chủ nghĩa Mác. Đây là khát vọng cao cả của muôn đời, là mục đích vĩ đại nhất của hoạt động sáng tạo lịch sử bởi con người và loài người, mà cuối cùng, lịch sử đã phát hiện thấy, đã tự nhận thức được. Mục đích bản chất này sẽ từng bước được thực hiện trong CNXH, trong nền dân chủ XHCN.

Dân chủ XHCN không hình thành từ một mảnh đất trống không, nó phủ định dân chủ tư sản một cách biện chứng; do đó, nó kế thừa những mặt tiến bộ và hợp lý, nó lọc bỏ để vượt lên những gì không phù hợp, thậm chí đối lập với bản chất XHCN của nó. Trước CNXH, dân chủ tư sản là nền dân chủ hiện đại, tiến bộ, hơn hẳn dân chủ trong chế độ chiếm nô, nó cũng là biến đổi cách mạng, so với chế độ phong kiến được biết đến như một chế độ chuyên chế, đẳng cấp, gia trưởng, ít hàm lượng dân chủ nhất, thậm chí xa lạ, đối lập với dân chủ.

Chính dân chủ tư sản đã đóng vai trò lịch sử xứng đáng của nó khi giải phóng cá nhân, thực hiện tự do cá nhân để khẳng định cái Tôi có bản ngã, có cá tính, cho dù là cái Tôi tư sản và chủ nghĩa cá nhân tư sản cực đoan, vị lợi và vị kỷ.

Cái giá đỡ vật chất, cái bệ đỡ kinh tế của dân chủ tư sản là chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất.

Ý thức hệ của dân chủ tư sản là chủ nghĩa cá nhân, tôn thờ lợi nhuận và làm giàu bằng mọi giá.

Khung khổ pháp lý của dân chủ tư sản là Nhà nước pháp quyền tư sản, nó thực hiện và bảo vệ quyền lực, lợi ích cho một thiểu số hữu sản, dĩ nhiên, một cách khách quan, tất yếu để tồn tại, nó cũng phải tính đến nhu cầu xã hội, thỏa mãn đến một mức độ nào đó lợi ích của các công dân và của xã hội, dù chỉ là ghi nhận pháp lý hoặc hình thức. Trong bản chất của nó, chủ nghĩa tư bản và dân chủ tư sản không thể tự mình giải quyết được mâu thuẫn nội tại và những hạn chế tất yếu của nó. Cuộc đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ và tiến bộ xã hội vẫn thường xuyên diễn ra của những người lao động xung đột về quyền và lợi ích với các chủ tư bản, với các thiết chế quyền lực tư sản. Thất nghiệp, nghèo đói, bất công xã hội, bạo lực, tội ác và tội phạm vẫn là hiện thực không thể che đậy trong xã hội tư bản chủ nghĩa, ngay trong lòng nước Mỹ và các nước tư bản phát triển đối với một bộ phận không nhỏ dân cư xã hội. Đấu tranh cho dân chủ và nhân quyền, trên thực tế lại đang diễn ra một cách bức xúc ngay trong các xã hội tư bản chủ nghĩa, cho dù các chính khách tư sản ở đây vẫn thường ra sức quảng bá thành tựu dân chủ, nhân quyền của họ; đồng thời, dùng dân chủ, nhân quyền như một áp lực chính trị trong quan hệ quốc tế với các nước khác. Thực tiễn là, khách quan và lịch sử là công minh. Tự nó sẽ cho câu trả lời, từ thái độ của người dân với chính giới.

Song, do được đào luyện và trải nghiệm lâu dài hàng mấy thế kỷ, nên một cách khách quan và công bằng cũng phải thừa nhận rằng, trình độ và kinh nghiệm xây dựng thể chế, nhất là luật pháp, tính nền nếp kỷ cương trong việc thi hành luật pháp, nếp sống theo tập quán pháp để giữ nghiêm hiệu lực pháp luật, các kỹ năng và công nghệ chính trị, nhất là trong quản lý nhà nước, trình độ học vấn, học thức và văn hóa của con người trong hoạt động tham chính… trong chủ nghĩa tư bản và trong nền dân chủ tư sản có thể gợi mở nhiều tham khảo bổ ích đối với chúng ta ngày nay. Xây dựng nền dân chủ XHCN, Nhà nước pháp quyền XHCN và đổi mới chính trị, trong đó có đổi mới hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay, có thể và cần phải học tập, tham khảo kinh nghiệm của các nước tư bản. Trên quan điểm đổi mới và phát triển, thái độ và phương pháp đó là cần thiết. Để phát triển và hoàn thiện nền dân chủ XHCN, cần phải áp dụng quy luật tiếp biến văn hóa nhìn từ góc độ dân chủ và văn hóa dân chủ.

Vậy, bản chất, mục tiêu và động lực của dân chủ XHCN đối với phát triển đất nước được thể hiện như thế nào?

Về bản chất, dân chủ XHCN là nền dân chủ của đông đảo nhân dân trong xã hội mà họ là những người chủ, những chủ thể xây dựng, sáng tạo và bảo vệ.

Dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân, nhân dân tự tổ chức và thực hiện, trước hết và chủ yếu thông qua nhà nước của mình. Dân chủ là vấn đề quyền lực và lợi ích, là quan hệ giữa cá nhân với cộng đồng, giữa công dân với nhà nước, giữa luật pháp với đạo đức, giữa ý thức dân chủ với năng lực thực hành dân chủ, trước hết là giữa ý thức với hành vi.

Hồ Chí Minh từng nói, trong một nước dân chủ, nhân dân là người chủ, cán bộ công chức là đầy tớ và công bộc phục vụ dân, bảo vệ dân. Bao nhiêu lợi ích đều là của dân, bao nhiêu quyền hành đều thuộc về dân. Quyền hành và lực lượng đều ở trong dân.

Chủ thể dân chủ là dân, đây là chủ thể ủy quyền, chủ thể tham gia xây dựng, giám sát và kiểm tra nhà nước, tham gia xây dựng Đảng và các đoàn thể. Theo ngôn ngữ kinh tế, dân là chủ sở hữu nhà nước của mình. Nhà nước và các tổ chức công quyền, các công sản là sở hữu của dân. Dân làm chủ nhà nước cũng như dân là chủ sở hữu tài sản chính trị của mình. Tham chính không chỉ có công chức và quan chức. Tham chính rộng rãi nhất là dân, qua hành vi chính trị, tính tích cực chính trị của công dân. Được cách mạng giải phóng, trở thành những công dân tự do và làm chủ, dân ở vị thế người chủ xã hội của mình.

Quyền con người và quyền công dân là một tập hợp vô số các quyền, đồng thời cũng tất yếu bị ràng buộc, chi phối bởi các trách nhiệm, nghĩa vụ, bổn phận tương ứng, do luật pháp điều tiết. Chung quy lại, các quyền đó đều quy vào quyền tồn tại như một con người và quyền phát triển như một nhân cách. Dân đã có quyền làm chủ thì cũng phải tự giác thi hành nghĩa vụ của người chủ. Nhà nước, cái thiết chế chính trị quan trọng bậc nhất để thực hiện dân chủ, quan hệ với công dân, phục vụ dân với tư cách chủ thể tiếp nhận sự ủy quyền của dân để thực thi quyền lực nhân dân và để phục vụ dân, bảo vệ dân.

Quan hệ giữa nhà nước với công dân biểu hiện qua quan hệ giữa công chức và công dân. Do đó, phải đề cao kỷ luật công vụ và đạo đức công chức để tận tụy phục vụ dân, thực hiện trách nhiệm với dân, sao cho thường xuyên chăm lo phát triển sức dân, bồi dưỡng sức dân và tiết kiệm sức dân như Hồ Chí Minh đã dạy. Đem lại lợi ích cho dân, thực hiện được quyền lực của dân, làm cho dân thực hiện quyền làm chủ của mình bằng dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện, đó là mục tiêu của dân chủ, cũng tức là mục tiêu phát triển đất nước.

Dân chủ XHCN là mục tiêu của công cuộc đổi mới, đồng thời là mục tiêu và bản chất của CNXH. Điều này không chỉ được làm rõ từ phương diện lý luận như đã nêu trên, mà còn được nhận biết từ thực tiễn cuộc sống của người dân, từ thực tiễn vận động và phát triển của đổi mới ở nước ta. Đời sống thường nhật với những nhu cầu và lợi ích thiết thân, bức xúc để tồn tại và phát triển đã hối thúc người dân phải tự mình đổi mới, từ cách nghĩ đến cách làm, tự vượt lên khỏi những rào cản của cơ chế và chính sách, của thể chế đang trói buộc mình. Cuộc sống gợi ý, mách bảo và hối thúc người dân đổi mới và hành động đổi mới của những người dân, những hộ dân, nhất là ở nông thôn 25 năm về trước chính là hành động theo mệnh lệnh của cuộc sống. Phát hiện và tổng kết thực tiễn ấy, Đảng đã khái quát thành lý luận và khởi xướng đường lối đổi mới. Quyết sách ấy là kịp thời, sáng suốt, bởi Đảng đã bắt đúng mạch đập của cuộc sống, đáp ứng sự mong mỏi, chờ đợi của người dân. Sự gặp gỡ tự nhiên này giữa ý Đảng với lòng dân là ở lợi ích và quyền làm chủ của người dân, nó chính là dân chủ hiển hiện trực tiếp trong thực tiễn như cơm ăn, áo mặc, việc làm trước khi nó được luận giải bằng lý luận.

Đại hội VI, chúng ta mới chỉ hình dung đổi mới vì dân giàu, nước mạnh, xã hội văn minh. Đại hội VII, đổi mới đã có thêm một mục tiêu công bằng xã hội, trong đó không chỉ có công bằng về phân phối lợi ích mà còn là công bằng về cơ hội phát triển cho tất cả mọi người. Về bản chất, đó cũng chính là dân chủ, là phương diện nhân văn của dân chủ, là quyền sống, quyền được phát triển của con người. Phải đến Đại hội IX (2001), dân chủ mới thực sự định hình trong hệ mục tiêu đổi mới, đó cũng là chuỗi giá trị của phát triển: Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh để đạt tới tự do và hạnh phúc.

Và, như đã nói, đến Đại hội XI, dân chủ là giá trị hàng đầu, là cơ sở để thực hiện bình đẳng và công bằng, để đoàn kết và đồng thuận. Con người chẳng những là mục tiêu và động lực của phát triển, mà còn được xác định là trung tâm và chủ thể của phát triển xã hội.

Tất cả những vị thế đó của con người cũng là sự thể hiện những chiều cạnh khác nhau của dân chủ, của dân là chủ và dân làm chủ. Nó quy định một cách tất yếu nội dung toàn diện của mục tiêu dân chủ mà cũng là một phức hợp các nhiệm vụ phải giải quyết trong việc xây dựng nền dân chủ và xã hội dân chủ.

Mục tiêu dân chủ, do đó phải thể hiện trước hết ở dân chủ trong kinh tế, dân chủ trong chính trị. Cùng với nó còn là dân chủ trong văn hóa, trong phát triển xã hội và quản lý xã hội, hướng trực tiếp vào việc giải quyết các vấn đề xã hội, chính sách xã hội và an sinh xã hội cho con người, vì con người.

Bởi dân chủ là mục tiêu nên ngay khi chính thể dân chủ vừa mới lọt lòng, Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: chúng ta phải làm ngay, làm cho dân có ăn, làm cho dân có mặc, làm cho dân có nhà ở, được học hành, được tự do đi lại, được chăm sóc sức khỏe, được hưởng quyền tự do mà họ xứng đáng được hưởng với tư cách người chủ. Người còn nói rõ, dân chỉ biết tới tự do, dân chủ khi dân được ăn no, mặc ấm. Nước nhà tranh đấu được độc lập, tự do mà dân vẫn đói rét, cực khổ, lạc hậu thì độc lập tự do cũng chẳng để làm gì.

Dân chủ là mục tiêu, do đó phải đặc biệt chăm lo xây dựng và củng cố chính quyền nhà nước, có luật pháp để thi hành các công việc quản lý và để bảo vệ dân, có nền hành chính công minh bạch để phục vụ dân, không phiền hà, sách nhiễu dân, không quan liêu, tham nhũng gây tổn hại tới dân.

Những thiết chế chính trị trọng yếu nhất như Đảng và Nhà nước tồn tại cũng chỉ vì dân, vì mục tiêu dân chủ. Những tổ chức, đoàn thể xã hội của dân càng phải tỏ rõ hiệu quả thực tế, gắn bó mật thiết với dân, làm cho dân cảm nhận trực tiếp rằng, nó cần thiết, thực sự cần thiết và hữu ích với mình như thế nào. Chính sách của Đảng và Nhà nước, theo Hồ Chí Minh, là pháp lý, đạo lý và đạo nghĩa lớn nhất. Nó phải tỏ rõ sự quang minh, chính đại, chính tâm và thân dân để thực sự tiến tới dân chủ. Xét trên phương diện văn hóa, mục tiêu dân chủ phải trở thành văn hóa dân chủ; trong đó, quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với tổ chức, thiết chế và thể chế phải được đảm bảo bởi các chuẩn mực dân chủ, phải thể hiện cả tính nhân văn và tính pháp lý trong ứng xử với người, với việc. Đó chính là tinh thần trọng dân và trọng pháp. Nhà nước pháp quyền đảm bảo cho dân chủ được thể chế hóa và được thực hiện trong tất cả các lĩnh vực, các cấp độ của đời sống. Dân chủ đòi hỏi Nhà nước pháp quyền phải thực sự là của dân, do dân và vì dân. Nếu luật pháp, trật tự, kỷ cương là giới hạn và hành lang vận động của dân chủ thì dân chủ đòi hỏi luật pháp phải tiến bộ, văn minh, được thi hành nghiêm minh và công minh với tất cả mọi người trong xã hội.

Nếu dân chủ XHCN là mục tiêu xây dựng và phát triển đất nước trong tiến trình đổi mới thì đồng thời, mỗi bước tiến trong việc thực hiện mục tiêu dân chủ cũng làm bộc lộ sức mạnh, tác dụng và hiệu quả của dân chủ với tư cách là động lực của phát triển.

V.I.Lênin đã từng hình dung rằng, phát triển dân chủ đến cùng sẽ tiến tới CNXH. Sẽ không có bất cứ một bước tiến nào của CNXH có thể được thực hiện mà lại không có một bước tiến tương ứng của dân chủ.

Vậy, dân chủ là động lực của tiến bộ và phát triển được thể hiện như thế nào? Trước hết là ở chỗ, thực hiện được lợi ích giữa cá nhân và cộng đồng. Đó là lợi ích kinh tế - vật chất và cùng với nó là lợi ích văn hóa, tinh thần. Nó là ngọn nguồn dẫn tới tính tích cực lao động, thúc đẩy phát triển kinh tế và phát triển xã hội nói chung. Nó làm giảm thiểu và tiến tới xóa bỏ tình trạng tha hóa lao động, tha hóa đạo đức và lối sống. Nhờ dân chủ trong các quan hệ lợi ích mà xã hội có thể thoát ra khỏi tình trạng trì trệ trong sản xuất - kinh tế, trong hoạt động kinh doanh; thúc đẩy tăng năng suất, chất lượng, hiệu quả vì lợi ích cá nhân và lợi ích cộng đồng. Kinh tế thị trường cùng với kinh tế tri thức là tác nhân kinh tế quan trọng nhất để phát triển dân chủ; đồng thời, dân chủ trở thành xung lực mạnh mẽ để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cả về tốc độ, quy mô lẫn chất lượng trong nền kinh tế thị trường. Thể chế dân chủ, các chính sách dân chủ (quy chế và pháp lệnh dân chủ ở cơ sở, nhất là nông thôn) thúc đẩy thái độ và hành vi của từng cá nhân, của cộng đồng trong đổi mới, phát triển và hiện đại hóa.

Thực tế đã cho thấy, dân chủ có vai trò quan trọng không thể thiếu để nước ta chuyển từ một nước nông nghiệp lạc hậu thành một nước công nghiệp hiện đại và văn minh. Vì sao vậy? Vì con người là nhân tố cơ bản nhất, có mặt trong cả lực lượng sản xuất lẫn quan hệ sản xuất. Muốn giải phóng và phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất, để trên cơ sở ấy, từng bước xây dựng quan hệ sản xuất mới, tiến bộ, phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất thì phải giải phóng mọi tiềm năng sáng tạo của con người và xã hội, phải nâng cao đời sống, chất lượng sống và trình độ của người dân. Dân chủ thúc đẩy sự biến đổi và phát triển, khai thông các nguồn lực, nhân lên sức mạnh của nội lực và ngoại lực để phát triển.

Động lực dân chủ không chỉ biểu hiện ở kinh tế, mà còn biểu hiện ngày càng rõ hơn ở chính trị, khi quyền lực và ý chí của nhân dân được thực hiện thông qua dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện với cơ chế bầu cử dân chủ, với thể chế rõ ràng, công khai, minh bạch. Một khi tiếng nói của người dân được tôn trọng, dân không chỉ là đối tượng thụ hưởng lợi ích, mà còn là chủ thể tham gia đánh giá chính sách, giám sát và kiểm tra việc thực hiện chính sách cũng như hoạt động của các cơ quan công quyền nói chung - nghĩa là người dân chủ động và tự giác tham chính - thì dân chủ chính trị sẽ tỏ rõ sức mạnh động lực của nó đối với tiến bộ và phát triển xã hội. Môi trường xã hội dân chủ sẽ hình thành dư luận xã hội tích cực, thúc đẩy hành động sáng tạo của đông đảo quần chúng để bảo vệ chế độ, bảo vệ Đảng và Nhà nước, chống lại những hành vi phản dân chủ. Chỉ có thực hành dân chủ rộng rãi, dựa hẳn vào sức mạnh, ý chí của dân mới có thể chống được tham nhũng. Đó là sự phát huy tốt nhất vai trò động lực của dân chủ trong tình hình hiện nay ở nước ta.

Xây dựng con người, phát triển văn hóa, thực hiện quốc sách hàng đầu với giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ, nhất là thực hiện đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân nhằm chấn hưng đạo đức dân tộc, làm cho gia đình thực sự là những tế bào lành mạnh của xã hội, tạo ra đột phá về nguồn nhân lực chất lượng cao không thể không tính đến vai trò động lực của dân chủ.

Hai vấn đề quan trọng nhất được đặt ra về vật chất và tinh thần, đó là thoát ra khỏi đói nghèo, lạc hậu và tôn trọng giá trị nhân cách con người. Nền dân chủ XHCN và xã hội dân chủ đang từng bước được xây dựng và phát triển có thể đáp ứng tốt nhất những điều kiện ấy, tất cả vì cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc của con người.

Đi vào kinh tế thị trường và có nhà nước pháp quyền, mọi công dân được phép làm tất cả những gì mà pháp luật không cấm, còn công chức chỉ làm những gì mà pháp luật cho phép. Mọi người được khuyến khích làm giàu theo pháp luật, bằng lao động của mình.

Kinh tế tư nhân tỏ rõ là một động lực của phát triển kinh tế và được khuyến khích phát triển mạnh mẽ, lâu dài. Nhà nước chăm lo giải quyết các vấn đề xã hội và an sinh xã hội, thống nhất chính sách kinh tế với chính sách xã hội, bằng các biện pháp điều tiết để chăm lo cho các đối tượng yếu thế, thua thiệt trong phát triển nhằm đảm bảo công bằng xã hội. Luật pháp và đạo đức là hai cột chống đỡ để giữ cho xã hội lành mạnh, giảm thiểu mạnh mẽ những tổn thương và hệ lụy do mặt trái của kinh tế thị trường gây ra. Sức mạnh ấy có được từ dân chủ, xét trên toàn cảnh xã hội.

Với cá nhân từng người, dân chủ là động lực mạnh mẽ để thực hiện tự do tư tưởng, hình thành nhân cách trung thực và sáng tạo. Dân chủ là chất dinh dưỡng và sinh khí tốt nhất cho sự nuôi dưỡng và phát triển các tài năng, cho sự hình thành nhân cách làm người, khắc phục triệt để tình trạng phân thân, giả dối, xu thời, cơ hội làm lệch lạc, biến dạng nhân cách do thiếu vắng hoặc yếu kém về dân chủ gây ra. Phải đặc biệt chú trọng vượt qua điểm nghẽn này, nhất là đối với lớp trẻ đang trong quá trình hình thành và trưởng thành về nhân cách. Chính ở đây, dân chủ trong ứng xử, đối xử với con người, trong giáo dục đạo đức và lối sống, trong tổ chức đời sống và quản lý xã hội nổi bật vai trò, tác dụng động lực của nó như một đột phá. Trong chính sách dùng người, đào tạo và bồi dưỡng cán bộ, phát hiện và trọng dụng nhân tài, trọng đãi hiền tài vì sự hưng thịnh của quốc gia dân tộc, muốn có đột phá phải trên nền tảng dân chủ mà cốt lõi của nó là tôn trọng giá trị nhân cách con người, tin cậy năng lực, quý trọng phẩm giá, khách quan, công bằng trong đánh giá và sử dụng cán bộ, có chính sách đãi ngộ thỏa đáng để con người tận tụy hết mình trong công việc, trong sự nghiệp phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân.

Thực hành dân chủ là thực hành trong các mối quan hệ, như Hồ Chí Minh đã chỉ dẫn, với tự mình, với người, với việc, với tổ chức và đoàn thể, sâu xa hơn nữa là với dân chúng. Thực hành dân chủ rộng rãi, nhất là dân chủ trong Đảng là làm cho động lực dân chủ, văn hóa dân chủ phát huy tác dụng của nó trong các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong các mối quan hệ con người để phát triển dân chủ thực chất, khắc phục dân chủ hình thức, chống lại những vi phạm dân chủ và quyền làm chủ của người dân, chống quan liêu, lãng phí, tham ô, tham nhũng có hiệu quả rõ rệt nhất. Đây cũng là đường hướng chủ đạo thuộc về tầm nhìn và hành động của Đảng theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XI về dân chủ ở nước ta. Một cách thiết thực và cụ thể, mọi nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân đều hướng vào phát triển sức dân, bồi dưỡng sức dân, tiết kiệm sức dân, chăm lo dân sinh, nâng cao dân trí, đảm bảo dân quyền để phát huy tốt nhất sức mạnh của dân chủ trong công cuộc đổi mới vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh./.

_______________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị và Truyền thông số 9.2011

GS, TS Hoàng Chí Bảo


Xem nhiều

PGS,TS Trần Thanh Giang được bổ nhiệm làm Phó Giám đốc Học viện Báo chí và Tuyên truyền

Ngày 19.4.2022, Học viện Báo chí và Tuyên truyền tổ chức Lễ công bố và trao Quyết định của Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh về công tác cán bộ. PGS,TS Trần Thanh Giang, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ - Bí thư Chi bộ, Trưởng Ban Quản lý đào tạo được bổ nhiệm làm Phó Giám đốc Học viện Báo chí và Tuyên truyền. PGS,TS Nguyễn Duy Bắc, Phó Bí thư Đảng uỷ - Phó Giám đốc Thường trực Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh chủ trì buổi Lễ.

Khai mạc Hội Báo toàn quốc 2022, nhiều đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước tham quan gian trưng bày của Học viện Báo chí và Tuyên truyền

Khai mạc Hội Báo toàn quốc 2022, nhiều đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước tham quan gian trưng bày của Học viện Báo chí và Tuyên truyền

Sáng ngày 13.4, Hội Báo toàn quốc 2022 chính thức khai mạc tại Bảo tàng Hà Nội. Gian trưng bày của Học viện Báo chí và Tuyên truyền vinh dự đón tiếp đồng chí Nguyễn Trọng Nghĩa, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương; đồng chí Vũ Đức Đam, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ.

Tổ chức gặp mặt đầu xuân Nhâm Dần và triển khai nhiệm vụ năm 2022

Tổ chức gặp mặt đầu xuân Nhâm Dần và triển khai nhiệm vụ năm 2022

Sáng ngày 7.2.2022 (tức mùng 7 tháng giêng năm Nhâm Dần), Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh tổ chức gặp mặt đầu xuân Nhâm Dần 2022 và triển khai nhiệm vụ tới toàn thể cán bộ, giảng viên, công chức, viên chức cả hệ thống Học viện bằng hình thức trực tiếp và trực tuyến. GS,TS Nguyễn Xuân Thắng, Ủy viên Bộ Chính trị, Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương chủ trì buổi gặp mặt. Tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Đảng ủy, Hội đồng trường, Ban Giám đốc Học viện cũng tổ chức buổi gặp mặt đầu xuân mới với toàn thể lãnh đạo, viên chức, người lao động các đơn vị trong Học viện.

Lễ Tốt nghiệp Chương trình Cử nhân quốc tế, khóa II

Lễ Tốt nghiệp Chương trình Cử nhân quốc tế, khóa II

Ngày 24.11.2021, Học viện Báo chí và Tuyên truyền long trọng tổ chức Lễ tốt nghiệp Chương trình Cử nhân quốc tế Quảng cáo, Quan hệ công chúng và Thương hiệu cho sinh viên Khóa II.

Hội nghị Sơ kết công tác đào tạo đại học hệ chất lượng cao

Hội nghị Sơ kết công tác đào tạo đại học hệ chất lượng cao

Sáng 10.11.2021, tại Hội trường D - Nhà A1, Học viện Báo chí và Tuyên truyền tổ chức Hội nghị Sơ kết công tác đào tạo đại học hệ chất lượng cao. Hội nghị nhằm đánh giá khách quan, đầy đủ về công tác đào tạo trình độ đại học hệ chất lượng cao, phân tích nhu cầu và khả năng tiếp tục phát triển các chương trình chất lượng cao của Học viện trong thời gian tới.

XEM THÊM TIN